Đã kiếm đủ tiền, giờ là lúc sống vì tình


25.300 kết quả tìm kiếm của Google cho từ khóa “Nguyễn Lâm Viên Vinamit”; 49.500 kết quả cho từ khóa “Ông Viên Vinamit”, có thể nói tần suất xuất hiện trên các phương tiện truyền thông của ông Nguyễn Lâm Viên – Tổng giám đốc Vinamit – khá dầy đặc. Phong cách tự tin, nói chuyện lưu loát, ông Nguyễn Lâm Viên là người giỏi giao tiếp, thích chia sẻ thông tin về chuyện làm ăn.
1. Có thể liên doanh, nhưng không bán thương hiệu
PV: Từ lúc ra đời, sản phẩm Vinamit luôn có giá cao hơn các sản phẩm cùng loại, ông có thấy mình gặp khó khăn không?
nguyen lam vienÔng Nguyễn Lâm Viên (NLV): Khi chọn sản xuất hàng chất lượng, chúng tôi chỉ có khách hàng ở phân khúc cao, nghĩa là thị phần bị bó hẹp ở thành thị và người tiêu dùng đa số thuộc tầng lớp trung lưu trở lên. Nhưng tôi vẫn tin rằng khi ý thức người tiêu dùng ngày càng cao thì họ sẽ quan tâm đến phẩm chất của nguyên liệu nhiều hơn so đo về giá. Khi nào họ cầm gói thực phẩm chế biến trên tay và chỉ chú trọng nhãn hiệu, thành phần nguyên liệu, bao bì …thì khách hàng của tôi sẽ ngày càng đông.
PV: Dường như thời mà ông mong đã đến, khi vấn đề an toàn thực phẩm đang ở mức báo động đe dọa sức khỏe của người tiêu dùng, ông có thấy doanh thu đang tăng?

NLV: Cũng có tăng nhưng chưa như mong muốn. Chị nghĩ sao khi xoài dẻo Vinamit có giá 280.000 đồng/kg, trong khi xoài dẻo của thị trường chỉ bán 120.000đồng? Đến Việt kiều về đây mà còn mua xoài dẻo không có nhãn hiệu để làm quà tặng.
PV: Thế nhưng ông vẫn tự tin cho biết doanh thu không sút giảm dù sản phẩm của ông không thuộc loại tiêu dùng thiết yếu, có phải do 50% doanh thu đến từ việc xuất khẩu?

NLV: Đúng thế. Vinamit có 20 sản phẩm nhưng chỉ bán được ở thị trường nội địa có 6 sản phẩm thôi. Chẳng hạn như trái cây sấy dẻo tôi không thể bán ở thị trường trong nước vì giá bán của tôi gần như gấp đôi sản phẩm cùng loại trên thị trường.
PV: Tại sao giá của Vinamit lại gần như gấp đôi?
NLV: Chúng tôi không bán sản phẩm độn. Nói xoài là xoài, không độn đu đủ hay khoai lang và cho hóa chất tạo mùi vào!
PV: Thế khi xuất khẩu, sản phẩm của ông mang tên gì? Chất lượng theo khách hàng đặt?
NLV: Bao bì có thể thay đổi ngôn ngữ, nhưng vẫn giữ hương vị và tên tuổi Vinamit. Tôi không xuất sản phẩm dưới nhãn hiệu khác như kiểu gia công. Những doanh nghiệp Việt đang cố gắng giữ bản sắc riêng đang rất vất vả, thậm chí bị đè bẹp, nhưng đó mới là cái đúng, cứ âm thầm giữ bản sắc thì sẽ có hiệu quả lâu dài. Thị trường ở những nước phát triển luôn tôn trọng bản sắc văn hóa địa phương.
PV: Vinamit mới có thêm sản phẩm mới là sen sấy nhiều hương vị và cà phê “3 in 1” nhưng tôi thấy chưa có mấy ai biết đến, có đúng không?
NLV: Khi tung ra sản phẩm sen sấy, tôi hy vọng nhiều người sẽ ưa thích một hương vị khác của Sen Việt. Nhưng có vẻ, loại hàng này chỉ tiêu thụ tốt trong dịp tết và được người có tuổi ưa chuộng. Còn đa số người tiêu dùng (là phụ nữ và trẻ em) vẫn chỉ thích mít sấy và trái cây sấy tổng hợp.
Cà phê “3 in 1” của Vinamit cũng chưa đạt doanh thu như mong đợi, do chúng tôi dùng cà phê nguyên chất: không hương liệu và không đắng. Cái này là do thị trường mình đã quen dùng thứ cà phê độn rồi!
Chị có biết là quán cà phê Regina của tôi ra đời từ năm 2006 với mong muốn là giới thiệu với người tiêu dùng hương vị đúng của cà phê nguyên chất, thế nhưng đến nay chỉ có 50% khách vào quán là kêu cà phê nguyên chất – tức vị lạt và lỏng, không sánh đặc và không đen. 50% khách còn lại vẫn chỉ thích “cà phê Việt Nam” – tức cà phê có chất độn!
Dường như đến nay vẫn không có nhiều người biết rằng: chỉ cần ít hóa chất và chất độn, người ta có thể biến một ly nước trắng thành một ly cà phê sánh đặc, đen và đắng!
PV: Gần đây, giá đô la Mỹ liên tục tăng, rõ ràng lợi cho những doanh nghiệp xuất khẩu Ông có vui vì điều đó?
NLV: Bình thường thôi. Giá đô la Mỹ tăng nhằm kích thích các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu là một chính sách đúng, nhưng thực ra tăng cũng chưa đúng với giá trị của nó. Mặt khác, giá nguyên vật liệu nông nghiệp cũng tăng.
PV: Ông đánh giá thương hiệu Vinamit đang đứng ở đâu trên thị trường trái cây sấy khô?
NLV: Hiện giờ đang ở vị trí số 1. Một trong những yếu tố thuận lợi: Vinamit là sản phẩm trái cây sấy khô đầu tiên trên thị trường.
PV: Thế còn tương lai, ông đã chuẩn bị đội ngũ kế thừa để giữ vững vị trí số 1 chưa? Có thể là “cha truyền con nối”?
NLV: Không, tôi không định “cha truyền con nối”, vì các con tôi có dự định riêng. Thực ra, tôi đang chuẩn bị và vẫn nghĩ: Vinamit có thể là một liên doanh trong tương lai, nhưng không nhất thiết phải bán thương hiệu.
Hiện nay, chúng tôi làm việc với một công ty nước ngoài cùng ngành. Để nâng cao về mặt công nghệ, chúng tôi có thể chấp nhận liên doanh với nước ngoài trong khâu sản xuất, và đó cũng là một chọn lựa để tồn tại.
PV: Còn cách nào khác không?
NLV: Vinamit vẫn sẽ giữ mặt hàng truyền thống, dù khó khăn. Bên cạnh đó, chúng tôi tăng cường tương tác với các doanh nghiệp khác nhiều hơn, chẳng hạn như sản xuất hàng nhãn riêng cho siêu thị: cả hai cùng đứng chung tên trên bao bì…và mở rộng thêm thị trường. Trong khó khăn, tôi muốn dùng phương pháp các doanh nghiệp cõng nhau cùng đi, dựa vào thế mạnh của nhau để tồn tại, chứ không để công ty mình bị thôn tính!

nguyen lam vien 4
2. Đừng để người tiêu dùng Việt quay lưng với sản phẩm Việt
PV: Ông hay nhấn đi nhấn lại thông điệp mình là doanh nhân Asean + 1. Điều đó có ý nghĩa gì?
NLV: Asean + 1 là 10 nước trong khối Asean + TQ. Vào năm 2015, khi các hiệp định thương mại được thực hiện hết thì thị trường Việt Nam sẽ tràn ngập hàng nước ngoài. Doanh nhân chúng ta đã sẵn sàng làm điều ngược lại chưa: không chỉ đẩy mạnh tiêu thụ trong nước mà còn đem sản phẩm đến 10 nước Asean và Trung Quốc để bán? Mặt khác, từ giờ đến lúc đó, chúng ta phải tạo ra niềm tin vào hàng Việt. Nếu người tiêu dùng không có niềm tin vào hàng Việt thì chúng ta sẽ mất hết, người tiêu dùng Việt sẽ chỉ mua sản phẩm của nước ngoài, giống như người Trung Quốc hiện nay đang quay lưng với hàng của chính họ! Đó là hậu quả của lối làm ăn gian dối, đua theo giá rẻ, cạnh tranh bằng giá, bất chấp hậu quả, coi nhẹ đạo đức nghề nghiệp.
PV: Theo ông thì cần phải làm gì để người tiêu dùng có niềm tin vào hàng Việt?
NLV: Hãy nói về triết lý sống để thay đổi nhận thức và hành vi của doanh nghiệp. Ở Việt Nam và những nước châu Á đang phát triển, chúng ta sẽ gặp những doanh nhân chỉ chú trọng đến lợi nhuận và coi nhẹ những hành vi khác. Họ làm ra những sản phẩm na ná, giá cực rẻ, không nghĩ đến đạo đức nghề nghiệp. Đang tồn tại những thứ bán trên thị trường nhưng người làm ra nó không dám ăn. Tôi từng khuyên một người bạn: Đừng nên bán sản phẩm hàng giả xuất xứ từ Trung Quốc nhưng vì lợi nhuận quá cao và nhu cầu thị trường lớn nên họ vẫn không cưỡng lại được.

Đáng lẽ ra phải có “bàn tay thứ ba” giúp họ làm ăn đúng, bán giá cao, sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận. Bên cạnh việc nâng cao nhận thức của người làm kinh doanh bằng truyền thông, bằng thông tin, còn cần đến hàng rào kiểm tra của Nhà nước.
PV: “Hàng rào kiểm tra” như thế nào mới tốt?
NLV: Truyền thông đang nói nhiều về sức khỏe, nhưng vẫn chưa đủ, bởi thiếu sự tham gia của Nhà nước. Cách quản lý của Nhà nước hiện nay: cho doanh nghiệp công bố chất lượng sản phẩm nhưng chưa đưa ra danh sách những loại phụ gia hoặc hóa chất cấm sử dụng và tuyệt đối không được sử dụng. Hoặc Nhà nước vẫn chưa cảnh báo về những độc tố trong chất độn (chẳng hạn như bắp rang cháy, đậu nành rang cháy…cho vào cà phê ). Nhà nước hoàn toàn chưa đụng đến hương-màu-chất độn! Sợ rằng đến lúc Nhà nước muốn ủng hộ doanh nghiệp Việt thì không còn doanh nghiệp Việt Nam để ủng hộ nữa! Bởi trong tương lai, không thể tránh khỏi xu hướng là sẽ có nhiều doanh nghiệp Việt không còn ông chủ Việt Nam!
Khi mở cà phê Regina, đụng tới cà phê Việt Nam là hỡi ơi, vì 99% thứ cà phê đang bán trên thị trường là có chất độn! Rồi khi tôi thấy thị trường trong nước hàng năm tiêu thụ từ 3.000 – 5.000 tấn hạt dẻ, tôi muốn tìm nguồn để nhập thì mới té ngửa….Hóa ra loại hạt dẻ vỏ trắng ruột xanh đang bán trên thị trường đều…do Trung Quốc sản xuất, bằng cách tẩy trắng màu vỏ và tẩm xanh ruột! Điều đó khiến cho người tiêu dùng ngộ nhận rằng hạt dẻ có vỏ màu trắng và ruột màu xanh. Sự ngộ nhận này khiến cho hạt dẻ nguyên chất màu nâu nhập từ Mỹ về không thể nào bán được!!! Hiện tại Trung Quốc cũng đã cấm nhưng người ta vẫn kinh doanh lậu để đưa về Việt Nam qua đường biên giới.
Đã đến lúc truyền thông phải nói nhiều về đạo đức kinh doanh, phải cảnh báo cho người tiêu dùng biết rằng tất cả thực phẩm chúng ta ăn được đều không đẹp và phải có màu tự nhiên. Các bài báo phải thay đổi nhận thức của người tiêu dùng: hãy nhìn bản chất của sản phẩm chứ đừng nhìn bề ngoài!
PV: Nguyên liệu Vinamit sử dụng đều là nông sản, vậy mối quan hệ với nhà nông của ông ra sao? Dường như có lúc cũng không êm đẹp?
NLV: Từ năm 1991 đến nay, chúng tôi vẫn ký hợp đồng bao tiêu mít trái. Chúng tôi lập các câu lạc bộ liên kết khách hàng thân thiết trong từng vùng và có những buổi họp bàn về việc nâng cao chất lượng giống và quả. Lúc trước, nông dân phải mang hàng đến công ty bán nhưng giờ chúng tôi tổ chức đội ngũ đi giám sát quá trình trồng và cho cán bộ đi mua khi trái chín. Vinamit cũng tổ chức đầu mối thu mua là những khách hàng – nông dân thường có sản phẩm loại A, loại miễn kiểm chất lượng – để họ gom nông sản cho mình.
Đúng là có những lúc sản phẩm chín rộ, Vinamit không thu mua kịp hoặc phải hạ giá thì nông dân cũng cự. Lúc khác thì do sản phẩm của họ không đạt quy chuẩn của nhà máy nên chúng tôi không mua. Bởi theo quy chuẩn của Vinamit, nông sản khi thu hoạch không được sử dụng hóa chất tạo chín đồng đều, không được ngâm hóa chất hay ngâm nước. Đã có thực tế nông dân sợ mít chín lẹ nên họ ngâm nước pha hàn the cho mít tươi, nhân viên kỹ thuật của chúng tôi phát hiện thì sẽ không thu mua!
Tuy nhiên, Vinamit rất coi trọng vốn xã hội mà mình có.
PV: Vốn xã hội mà ông nói đó là gì?
NLV: Đó là uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, là tầm ảnh hưởng của doanh nghiệp đối với xã hội. Đó chính là tài sản vô giá của doanh nghiệp.
PV: Ông có tự tin nói rằng các sản phẩm Vinamit đều tốt cho sức khỏe?
NLV: Chưa, vì chúng tôi chưa kiểm soát hết mọi vùng nguyên liệu. Mặt khác, sản phẩm của chúng tôi chưa được công nhận là organic (dưỡng chất hữu cơ). Tôi chỉ tự tin ở sản phẩm mít sấy, do nguồn nguyên liệu chúng tôi kiểm soát được. Từ lâu chúng tôi đầu tư một loại mít riêng là Viên Linh – trái đồng đều, vỏ mỏng, múi nhiều, xơ ít, hột bé. Mít là loại trái cây chiếm hơn 60% thành phẩm của Vinamit.
Tuy nhiên, tôi có thể cam kết và chắc chắn rằng sản phẩm Vinamit không có hương liệu (màu, mùi) và hóa chất bảo quản trong quá trình chế biến!
3. Đã kiếm đủ tiền, giờ sống vì tình
PV: Dùng ít từ nhất để diễn tả triết lý kinh doanh của mình, ông sẽ chọn từ gì?
nguyen lam vien 2NLV: Chia-sẻ-nỗi-lo. Tôi là người theo Thiên Chúa giáo, chia sẻ là một tinh thần của đạo. Nhưng chỉ nói chia sẻ sẽ không rõ ý, nên tôi chọn thêm “nỗi-lo”. Tại sao lại là chia-sẻ-nỗi-lo? Thế giới chúng ta đang sống có quá nhiều điều bất an, nên điều cốt yếu mà tôi nghĩ con người cần là cùng nhau chia sẻ những nỗi lo lắng để không phải sống trong đe dọa và sợ hãi.
PV: Ông từng nói ở Việt Nam có 4 nhóm doanh nhân? Đó là…
NLV: Việt Nam có 4 nhóm doanh nhân: nhóm 1 là “ăn xổi ở thì”, thấy chỗ nào có tiền thì làm và bất chấp thủ đoạn. Nhóm 2 là khi có đủ tiền sẽ chuyển sang đầu cơ (lướt sóng, mua nhà đất, mua tài nguyên…). Nhóm 3 tập trung vào nghiên cứu sản phẩm, tạo ra những giá trị thuyết phục người tiêu dùng ủng hộ, họ là những doanh nhân yêu nghề . Nhóm 4 là sau khi có đủ tiền, doanh nhân sẽ có những hoạt động vì cộng đồng và nâng cao uy tín của mình với cộng đồng.
Cuộc đời của tôi từng trải qua 4 bước như vậy, nhưng cũng có những doanh nhân chỉ dừng lại ở nhóm 1 hoặc nhóm thứ 2. Ngược lại cũng có những doanh nhân chỉ ở nhóm 3 hoặc nhóm 4.
Chúng ta cũng đừng quá khắt khe với nhóm 1 và nhóm 2. Bởi biết đâu họ sẽ thay đổi một ngày nào đó.
PV: Ông tự định vị mình là loại doanh nhân nào trong 4 nhóm doanh nhân mà ông đề cập?
NLV: Nhóm 4, sau khi đã trải qua hết 3 bước trên!
PV: À, thế là sau khi kiếm đủ tiền, ông nghĩ mình phải sống vì cộng đồng để cân bằng?
NLV: Đúng rồi. Tôi ra đời bằng hai bàn tay trắng, nên phải bằng mọi cách kiếm tiền. Khi có tiền rồi mà không đầu cơ thì làm sao đi lên bước 3 và bước 4 được? Hiện tại tôi chưa nghĩ được có bước nào cao hơn nữa không nhưng làm được đến bước thứ 4 là tôi đã vui lắm rồi!
PV: Và quán cà phê Regina là bước thứ 4 của ông khi ông dành 100% lợi nhuận của quán để làm từ thiện? Cụ thể là giúp cho đối tượng nào?
NLV: Tôi thành lập quán cà phê Regina vào năm 2006. 100% lợi nhuận của Regina (một công ty độc lập) đều dành cho đối tượng giáo dục và y tế. Cụ thể là hàng năm Regina sẽ có kế hoạch tài trợ cho gần 10 đơn vị như nhà nuôi trẻ mồ côi, khu nội trú cho sinh viên đồng bào dân tộc, phòng khám chữa bệnh và phát thuốc miễn phí ở Long Thành và Gò Vấp…
PV: Khi cần thư giãn, ông chọn cách gì?
NLV: Đàn ghi ta, hát nghêu ngao và tụ tập bạn bè tập hát với nhau. Lời ca tiếng hát giúp giảm stress rất tốt. Tôi còn thành lập một ca đoàn doanh nhân hát với nhau, mỗi tuần tụ một lần ở Regina.

PV: Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện thú vị.

Thanh Thủy (thực hiện)

(Đã đăng trên tạp chí Doanh Nhân số 137 ra ngày 6/8/13)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s